Đà Quốc Công Mạc Ngọc Liễn – Công thần nhà Mạc với Bản Di Chúc nổi tiếng trong lịch sử

Mạc Ngọc Liễn nguyên có tên thật là Nguyễn Ngọc Liễn, là con trai thứ hai của Thái sư Tây Quốc công Nguyễn Kính, đại công thần khai quốc nhà Mạc. Do có công lao to lớn với nhà Mạc nên anh em của Ngọc Liễn đều được ban họ vua. Mạc Ngọc Liễn còn là phò mã nhà Mạc, chồng của Thái trưởng công chúa Phúc thành Mạc Thị Ngọc Lâm (con gái vua Mạc Đăng Doanh – Mạc Thái Tông). Mạc Ngọc Liễn lớn lên trong thời kỳ Đại Việt chia cắt thành Nam- Bắc triều, phía Bắc là nhà Mạc, phía Nam từ Thanh Hóa trở vào là nhà Lê Trung hưng. Năm 1546, trong triều nhà Mạc ở Thăng Long xẩy ra biến loạn, Mạc Ngọc Liễn cùng cha là Nguyễn Kính đứng về phía Mạc Kính Điển tập trung dẹp loạn rất trường kỳ đến năm 1549 triều đình mới được yên, do có công lao to lớn phò tá vua Mạc Phúc Nguyên, cha con Nguyễn Ngọc Liễn trở thành công thần hàng đầu ngoài hoàng tộc nhà Mạc, được cải sang họ vua. Nguyễn Kính được đổi thành Mạc Ngọc Kính giữ chức Thái úy Tây Quốc công, Mạc Ngọc Liễn được phong làm Ngạn Quận công. Cả hai cha con Mạc Ngọc Kính và Mạc Ngọc Liễn có công lao phò tá cả 5 đời vua Nhà Mạc từ Mạc Thái Tổ- Đăng Dung đến đời vua cuối ở Thăng Long là Mạc Mậu Hợp. Khi Nhà Lê Trung hưng được họ Trịnh giúp sức chiếm lại Thăng Long, Mạc Ngọc Liễn và các con đã đưa Nhà Mạc về đất Cao Bằng lập căn cứ mới. Ông đã tìm gặp được con trai của Khiêm vương Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung để lập làm vua mới lấy niên hiệu là Càn Thống. Các con trai của Ngọc Liễn là Lập Quận công, Đông sơn hầu, Phù Cao hầu cùng cha tiếp tục chiến đấu trên các mặt trận trên bộ, trên sông, và trên biển để giữ cho Nhà Mạc xây dựng căn cứ ở Cao Bằng. Chính vì có sự tận trung đó mà Nhà Mạc đã tồn tại trên đất Cao Bằng được gần 100 năm nữa. Khi Nhà Lê trung hưng trở lại Thăng Long và Nhà Mạc đã thất thế, tháng 7 năm 1594, Mạc Ngọc Liễn bị ốm nặng, do nhận biết được thời thế nên ông đã để lại bản di chúc dặn vua Mạc Kính Cung. Nội dung này được ghi trong cuốn quốc sử Việt Nam là “ Đại Việt sử ký toàn thư” với nội dung như sau:

“ Nay họ Mạc khí vận đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta vô tội, mà để cho mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Bọn ta nên tránh ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thì, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, hai con hổ đánh nhau tất có một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, cốt giữ cẩn thận là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, đó cũng là tội không có gì nặng bằng”.

Nội dung của bản di chúc đã ghi trong sử sách đã được truyền lại cho đến hôm nay, các thế hệ thuộc dòng tộc Nhà Mạc cũng như dòng họ của Tây Kỳ vương Nguyễn Kính – Mạc Ngọc Liễn vẫn coi đây là một tài sản quý của đất nước và dòng họ. Năm 2010, kỷ niệm 1000 năm thành lập Thủ đô Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội, Mạc tộc Việt Nam đã tập hợp lại được các chi phái thuộc dòng họ đã thay họ, đổi tên trở về lại gốc Mạc. Tôi cũng có may mắn được tham gia các hoạt động của họ Mạc với tư cách là cháu bên ngoại của cụ  tổ Mạc Thái Tông. Ngày 01 tháng 9 năm 2013, Hội đồng Mạc tộc Việt Nam sau một thời gian dài chuẩn bị đã tổ chức một buổi đại lễ cầu siêu cho 500 người ở làng Hậu Tái thuộc tỉnh Thái Bình bị tàn sát thời chiến tranh Lê -Mạc. Đại lễ được tổ chức tại chùa Từ Xuyên, phường Hoàng Diệu thành phố Thái Bình. Khi trở về Hà Nội, ngồi cùng xe ô tô với tôi Giáo sư tiến sỹ khoa học Phan Đăng Nhật – Chủ tịch Hội đồng Mạc tộc Việt Nam khóa I, trong khi trao đổi với tôi, cụ có đề cập và gần như giao nhiệm vụ cho tôi, cụ nói “ Bản di chúc thật của cụ Đà Quốc công mà ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư” chắc là chỉ có trích đoạn, anh là cháu chắt của các cụ thì nên cố gắng tìm hiểu xem có tài liệu đầy đủ thì công bố thêm cho hoàn chỉnh bản di chúc nhé! Nghe theo lời dặn của cụ Giáo sư Phan Đăng Nhật, tôi về quê tiếp tục tìm lại bản gia phả bằng chữ Hán đã bị thất lạc được lưu tại nhà cháu trưởng họ, các trang và chữ đã bị nhàu nát và úa mầu theo thời gian. Song rất đáng mừng là sau  khi tập hợp lại và đóng lại theo từng trang thì những người có trình độ học vấn về Hán -Nôm giỏi vẫn đọc và dịch được. Một cơ may khác, tôi đã tìm gặp được anh Phạm Hải, một người con có họ gốc Mạc, anh công tác tại Trung tâm nghiêm cứu phả học Việt Nam, anh đã nhận lời và dịch lại cho toàn bộ cuốn phả. Đây là một tin vui cho dòng họ và cá nhân tôi, đã làm được một việc có ích cho dòng họ mà cụ Phan Đăng Nhật đã giao, nhân ngày xuân, năm mới Ất Mùi -2015, được phép của dòng họ, tôi xin công bố toàn  bộ nội dung của lời di chúc của cụ Đà Quốc công – Mạc Ngọc Liễn đã ghi trong gia phả của dòng họ như sau:

NGUYÊN VĂN BẢN DI CHÚC

CỦA ĐÀ QUỐC CÔNG – MẠC NGỌC LIỄN

Nay vận khí nhà Mạc đã hết, mà họ Lê lại phục hưng, âu là số trời vậy! Dân ta vốn vô tội mà chỉ hãm trong vòng gươm giáo đâm chém, thì nỡ để dân khổ thế sao! Chúng ta nên lánh sang ở nước khác, nuôi dưỡng lực lượng hùng mạnh, cam chịu thất thế, mà đợi thời cơ, xem mệnh trời thế nào. Sau đó ta trở về, mới có thể hy vọng tính việc đại sự, nhất định không thể lấy sức đọ sức, hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con chết, việc ấy thực là vô ích. Nếu bị quân địch hung bạo kéo đến, kế sách lúc ấy là chẳng gì bằng ta rút lui, điều cốt yếu chính là coi trọng việc phòng thủ cẩn thận và nhớ kỹ rằng, nhất định không được cầu viện quân Minh vào trong nước ta. Việc đó chẳng khác chi con cá bị ăn thịt, rồi đẩy dân ta lầm than chìm đắm trong bể khổ binh đao, thì còn tội nào lớn hơn thế !

Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn  mất ngày 2 tháng 7 âm lịch năm đó. Sau khi ông qua đời, các con ông là phò mã Đông Sơn hầu theo Mạc Kính Cung tiếp tục chống Tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh. Mạc Kính Cung và các vua Mạc sau tiếp tục làm theo lời dặn của ông, tranh thủ sự ủng hộ của nhà Minh để cát cứ ở đất Cao Bằng nhưng tuyệt nhiên không mượn quân Minh sang đánh Nhà Lê- Trịnh. Dấu tích còn để lại vùng đất này gắn liền với công đức của Đà Quốc công lúc sinh thời đã làm được nhiều việc cho dân, cho nước, có rất nhiều điều đã được ghi lại trong sử sách. Một làng ở xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng mang tên là làng Đà Quận, tức là đặt theo chức Đà quận công của Mạc Ngọc Liễn. Nhân dân tại đây có dựng chùa Đà Quận để tưởng nhớ ông. Hội chùa Đà Quận diễn ra vào ngày 9 tháng giêng hằng năm.Tương truyền thuở sinh thời, khi chiến tranh còn chưa ác liệt, Mạc Ngọc Liễn cùng vợ là công chúa Mạc Thị Ngọc Lâm đã đại tu Linh Tiên Quán (làng Cao Thượng, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ) vào năm Giáp Thìn (1544). Đây là di tích gắn liền với tể tướng Lữ Gia nhà Triệu nước Nam Việt. Trước đây, Linh Tiên quán đã nhiều lần được sửa chữa nhưng tới lần tu sửa do ông thực hiện đã để lại cho đời sau một công trình văn hóa quy mô và bề thế bằng gỗ như ngày nay. Ngoài ra, ông còn là người tu bổ đền Lũng ở Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) thờ người được xem là ông tổ Hán họcViệt Nam. Đền Lũng được xây dựng quy mô to lớn từ khi Mạc Ngọc Liễn thực hiện, với 5 toà nhà liền nhau, hai bên tả hữu có lầu, phía trước là hồ nhỏ có cầu đá bắc qua, bên ngoài dựng Môn Lâu, ngoài nữa sát sông Dâu là Vọng Giang Lâu. Tại chùa Phổ Minh thành phố Nam Định, Đà Quốc công cùng vợ Mạc Thị Ngọc Lâm đã mua 36 cây gỗ lim lớn trùng tu lại ngôi chùa, hiện nay trên hầu hết các xà chùa vẫn còn những dòng chữ ghi lại đầy đủ ngày tháng và thời gian trùng tu lại ngôi chùa có quy mô bề thế đến tận ngày nay. Công chúa Mạc Thị Ngọc Lâm khi cuối đời đã tu hành tại chùa, hiện nay ngôi nhà tổ phía sau chùa có tượng chân dung bằng đá cẩm thạch tạc chân dung của cụ, phía sau là 3 ngôi mộ. Tương truyền là mộ lớn ở giữa chứa hài cốt, 2 mộ nhỏ bên cạnh là mộ táng bộ tóc và bộ trâm cài. Rất nhiều công trình cầu cống, chùa miếu ở các vùng Sơn Tây, Hà Nội, Cao Bằng, Quảng Ninh …đều có sự đóng góp của vợ chồng Đà Quốc công. Bộ đôi chân đèn được chế tác bằng gốm dòng Chu Đậu nổi tiếng trong thế kỷ 16 của vợ chồng Đà Quốc công cung tiến vào chùa Linh Tiên, hiện nay có một bộ được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam tại Hà Nội. Nhận định về sự nghiệp của Đà Quốc công, lịch sử ghi nhận Mạc Ngọc Liễn xứng đáng là con của danh tướng Nguyễn Kính. Hai đời cha con ông phò tá cả 5 đời vua nhà Mạc, từ lúc bắt đầu tới khi kết thúc một triều đại. Sau Mạc Kính Điển, có lẽ Mạc Ngọc Liễn là chỗ dựa lớn nhất của nhà Mạc thời hậu kỳ. Mạc Ngọc Liễn một đời tận trung với nhà Mạc, dù vật đổi sao dời vẫn không lay chuyển lòng trung. Khi Nhà Mạc đã suy vi ở Thăng Long, Mạc Ngọc Liễn dù tận tâm hết mức nhưng cũng không thể cứu vãn. Các sử gia ngày nay đánh giá rất cao lời thư trăng trối của ông. Về mặt chiến thuật với Nhà Mạc, đó là mưu kế “tẩu vi thượng sách”, phải tránh thế mạnh của kẻ địch. Chiến thuật đó là hợp lý đối với phe yếu như tương quan lực lượng giữa Lê và Mạc thời kỳ sau. Vua tôi họ Mạc nhờ theo kế của ông đã giữ Cao Bằng trong mấy đời, gần 100 năm nữa sau khi ông mất. Nhưng lớn lao hơn, các sử gia nhìn nhận lời trăng trối của ông là lời dặn của người có trách nhiệm với đất nước, với dân tộc. Trước đây thái thượng hoàng  Mạc Đăng Dung đã phải dùng rất nhiều phương pháp ngoại giao khôn khéo đối với nhà Minh để tránh hoạ xâm lăng của phương Bắc (mà nhà Mạc nếu đương đầu khó tránh khỏi số phận như nhà Hồ) và dường như điều đó tác động lớn tới tư tưởng của Mạc Ngọc Liễn. Ông thấm thía bài học về hậu quả đô hộ, dù chỉ 20 năm (1407-1427) của nhà Minh trước đây, quá nặng nề cho đất nước. Suốt gần 200 năm từ khi nhà Lê thành lập tới khi trung hưng (1428-1593), binh hoả liên miên, các nhân vật cao cấp của các chính quyền cai trị chỉ say sưa chiến trận và bảo vệ quyền lợi của mình; nhưng trong đó đã loé sáng lời dặn của Mạc Ngọc Liễn. Trong quãng thời gian dài đó, sau Nguyễn Trãi, tới tận khi nhà Mạc mất mới lại có một đại thần biết lo tới nỗi thống khổ của nhân dân Đại Việt về nạn binh đao và hoạ ngoại xâm, biết đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích của mình. Nhà Mạc sau Thái Tổ và Thái Tông không có thêm vua giỏi, nhưng có các bầy tôi như Mạc Kính Điển, Mạc Ngọc Liễn cứu vãn hình ảnh nhà Mạc. Dù thua trận, mất quyền cai trị, nhà Mạc không cố giành lại ngôi vị bằng mọi giá. Đặt lợi ích của nhân dân Đại Việt lên trên lợi ích của mình, điều này Mạc Ngọc Liễn nói riêng và các vua Mạc (thời kỳ Cao Bằng) nói chung đã coi vận mệnh của Tổ quốc và số phận của nhân dân là tối thượng, không chạy đi cầu viện ngoại bang.

 Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của Đà Quận công:

Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc.

Nhân dịp đầu xuân mới Ất Mùi -2015, tôi viết những dòng này để biểu thị sự tri ân đối với cụ tổ Đà Quốc công và mong muốn những ai thuộc dòng họ có liên quan đến Cụ tổ Tây Kỳ vương Nguyễn Kính và Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn, hiện đang sống và làm việc trên các miền của đất nước có thêm thông tin và sự liên hệ để tăng thêm lòng tự hào về tiên tổ, phấn đấu làm được nhiều việc tốt như các bậc tiền nhân để cống hiến cho đất nước và vẻ vang cho dòng họ.

Hà Nội, tháng 01 năm 2015

  Ks. Nhà báo Nguyễn Quang Tình

Hậu duệ dòng Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn

ĐT. 091.309.5677

(Bản di chúc của Đà Quốc Công- Mạc Ngọc Liễn đăng ở Đại Việt sử ký toàn thư chỉ có nội dung như sau “ Nay họ Mạc khí vận đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta vô tội, mà để cho mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Bọn ta nên tránh ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thì, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, hai con hổ đánh nhau tất có một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, cốt giữ cẩn thận là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, đó cũng là tội không có gì nặng bằng”)