Bài phát biểu về công đức cụ Tây Kỳ Vương Nguyễn Kính

BÀI PHÁT BIỂU CỦA NHÀ BÁO NGUYỄN QUANG TÌNH – PHÓ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG DÒNG TỘC TÂY KỲ VƯƠNG NGUYỄN KÍNH VỀ CÔNG ĐỨC CỤ TÂY KỲ VƯƠNG NGUYỄN KÍNH NHÂN DỊP KỶ NIỆM 445 NĂM NGÀY MẤT (06/4/ Nhâm Thân 1572 – 06/4 Đinh Dậu 2017)

Nam mô A di đà Phật
Nam mô A di đà Phật
Nam mô A di đà Phật

Kính thỉnh đức Thân phụ và Thân mẫu cụ tổ Tây Kỳ vương
Kính thỉnh cụ tổ Đức Tây Kỳ vương Nguyễn Kính (Mạc Ngọc Kính)
Kính thỉnh cụ tổ bà Vương phi Tây Kỳ vương
Kính thỉnh cụ Nguyễn Cung (Mạc Ngọc Cung) – Quận công, Bệ đề đốc. Trưởng nam của Đức Tây Kỳ vương

Kính thỉnh cụ Nguyễn Ngọc Liễn – Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn. Thứ nam cùng cụ bà Thái trưởng Công chúa Phúc thành Mạc thị Ngọc Lâm

Kính thỉnh các Quận công, quận chúa, các tướng sỹ, các quan, quân và con cháu anh linh, hương linh, vong linh của các cụ tổ…
Kính thưa các cụ ông, cụ bà
Kính thưa các quý vị khách quý
Kính thưa các vị đại biểu cùng các cháu chắt hậu duệ, viễn duệ của cụ khởi tổ Tây Kỳ vương Nguyễn Kính.

Hôm nay là ngày 30 tháng 4 năm 2017, nhằm ngày mồng 5 tháng 4 năm Đinh Dậu tại Nhà thờ tổ ở thôn Đông Thượng, xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, là những ngày đầu mùa hè trong sáng, ngày mà con cháu từ khắp mọi miền cùng nhau tụ hội về đây để làm lễ dâng hương tưởng nhớ 445 năm ngày mất của cụ khởi tổ dòng họ ta là Tây Kỳ vương Nguyễn Kính (06/4 năm Nhâm thân 1572 – 06/4 năm Đinh Dậu 2017). Chúng ta cũng rất phấn khởi và tự hào được đón tiếp các đại biểu khách quý đại diện cho Vương triều Nhà Mạc ở Hà Nội, Hải phòng, các khách quý của địa phương cùng các quý vị đại diện cho các Ban Quản lý các đền, đình, chùa có thờ tự và tôn vinh cụ tổ Tây Kỳ vương và các con cháu của cụ làm Thành hoàng làng.

Người Việt Nam ta từ xưa đến nay vẫn có câu nói ” Nước có nguồn, cây có gốc, con người ai cũng có tổ tiên”

Chúng ta tự hào được sinh ra và lớn lên và xuất phát từ vùng đất Xứ Đoài phía tây kinh thành Thăng Long được mệnh danh là vùng đất địa linh nhân kiệt với những vị vua nổi tiếng anh hùng trong lịch sử như Ngô Quyền, Phùng Hưng, các vị quan thanh liêm và tiết tháo như Thám hoa Giang Văn Minh, tiến sỹ Phùng Khắc Khoan… Ngoài những vị vua, quan nổi tiếng kể trên, tại mảnh đất Dị Nậu thuộc huyện Thạch Thất đã có một người con ưu tú, một vị tướng tài mưu trí dũng lược mà cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng đã làm rạng danh cho quê hương và dòng họ. Đó là cụ Tây Kỳ vương Nguyễn Kính. Cụ Kính là cụ khởi tổ của tôn tộc dòng họ Nguyễn Kính của chúng ta.

Kính thưa các quý vị!

Cụ Nguyễn Kính sinh năm Mậu Thìn (1508) quê ở làng Cổ Nậu (nay là xã Dị nậu ) huyện Thạch thất – tỉnh Hà tây (cũ) Nay là xã Dị Nậu, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

Thân sinh của cụ Kính là một nhà nho, am tường địa lý. Cuối thế kỷ XV cụ đã đi nhiều nơi để tìm đất, khi đi qua vùng Thạch thất, Cụ đã dừng chân và cư trú ở làng Cổ nậu, xin khai phá một khu gò cây cối rậm rạp, vợ chồng làm ăn sinh sống tại đó (Khu gò này chính là làng Dị Nậu ngày nay) Các cụ sinh được một người con trai đặt tên là Nguyễn Kính. Từ khi con còn nhỏ, cụ ông thường nói với vợ :

” Người con này có diện mạo khác người, sẽ không phải là người thường. Phải nuôi con ăn học và lớn lên con làm gì tuỳ ý không nên cản trở ”
– Tuy xuất thân không phải từ một gia đình giầu có, song cụ vẫn được cha mẹ nuôi ăn học. Năm Mậu Tý – 1528 cụ Kính 20 tuổi, thi đậu Tú tài Nho học. Ngài Kính lớn lên diện mạo hùng vĩ, khí độ việt nhân, sức khỏe hơn người. Nhưng thời kỳ này đất nước rối loạn, nhà Lê suy đồi đến cực độ. Trong triều đình các tập đoàn phong kiến chống đối nhau quyết liệt. Ngoài xã hội, phong trào nông dân nổi lên khắp nơi do hoàn cảnh nghèo khó, khốn cùng, cơ cực. Trước tình hình đó cụ Kính không theo con đường khoa cử nữa, cụ đã đi chu du nhiều nơi và liên kết với nhiều hào kiệt, tổ chức lực lượng, rèn luyện sĩ tốt, trấn giữ một vùng, lực lượng ngày một lớn, tiếng tăm vang dội khắp vùng xứ Đoài. Triều đình đã nhiều lần thuyết phục, mãi về sau Cụ mới chịu ra làm quan với nhà Lê, là một võ tướng thuộc phái tể tướngTrần Chân.

Vua Lê Chiêu Tông nhu nhược, bất minh, nghe lời xiểm nịnh hãm hại tôi trung, đã giết Trần Chân, người đã có công đánh đuổi Nguyễn Hoàng Dụ để bảo vệ hoàng tộc nhà Lê, cụ Kính cùng các tướng lĩnh của phái Trần Chân đã kịch liệt chống lại nhà vua. Đất nước trải qua binh lửa liên miên, cuộc nội chiến kéo dài, mỗi vị thủ lĩnh chiếm cứ một phương. Mặc dù rất yêu nước, thương dân nhưng cụ Kính tuy là một thủ lĩnh kỳ tài, văn võ song toàn, đất rộng dân đông. Cụ đã cai quản cả một vùng đất rộng lớn thuộc phía tây Thăng Long nhưng vẫn chưa tìm được một hướng đi đúng đắn. Sau nhiều lần tiếp xúc và theo dõi cách điều binh khiển tướng, cụ Kính đã nhận ra Mạc Đăng Dung một thủ lĩnh ở phía Đông đã từng nhiều năm làm quan đại thần nhà Lê, một người có sức khỏe phi thường đã đỗ đầu kỳ thi Trạng nguyên võ lại là người dòng dõi có học (cháu bảy đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi – Triều Trần) là người tuấn kiệt có tài an dân, trị quốc. Sau 5 năm suy nghĩ lấy việc nước là trên hết và qua theo dõi một cách rất thận trọng, cụ đã theo về nhà Mạc để góp phần ổn định đất nước. Vua Mạc phong chức Thị vệ sự Tây thành hầu. Cũng từ đó cụ đã điều binh, khiển tướng xông pha trận mạc đánh nhiều trận từ phía bắc vào phía nam, góp phần ổn định và giữ yên đất nước, bảo vệ hoàng tộc Nhà Mạc tại Thăng Long để các vua Nhà Mạc trị vì đất nước.

Cụ Kính là một tướng lĩnh được nhà vua yêu mến và rất tin cậy. Cụ đã là một trong những vị quan đầu triều nhà Mạc từ khi còn trẻ cho đến khi chí sỹ, là một tướng lĩnh trung thành, mưu lược, dũng cảm, một cận thần có nhiều công lao, một nhân vật nổi tiếng hồi đương thời được các triều vua Mạc và tôn thất nhà Mạc rất mực tin yêu, kính trọng, đã ban cho toàn Gia theo về họ Mạc được vua Mạc Thái Tông gả con gái là Thái trưởng Công chúa Phúc thành Mạc Thị Ngọc Lâm cho con trai thứ hai, lúc đó là Đô uý Ngạn quận công, Trưởng phù Tây vệ Nguyễn Ngọc Liễn. Cụ Kính đã nhiều lần được nhà vua tấn phong chức tước cao quý và giao trọng trách lớn lao trong triều đình ở Thăng Long.

– Năm 30 tuổi tấn phong Tây Quận công chỉ thành Tây vệ. Năm 40 tuổi phong phó tướng triều vương Mạc Kính Điển,
– Năm 42 tuổi được phong chức Thái uý Tây quốc công.
– Năm 53 tuổi phong Khai phủ sự, Chưởng quốc chính đặc tiến công thần, Phụ quốc Thượng tướng quân.
– Năm 60 tuổi được phong đặc sai tiết chế Tây nam thuỷ bộ chi doanh, Thái uý thượng trụ quốc .
– Năm 61 tuổi ( 1569 ) khi chí sỹ được tấn phong Trung thành Tây Kỳ vương tự là Nhân Chiêu, hiệu là Mạc thành Công, Thuỵ là Nghĩa huân Thánh Vương.

Cụ Nguyễn Kính mất ngày mồng 6 tháng 4 năm Nhâm Thân (1572) hưởng thọ 65 tuổi. Cụ bà được phong là Vương phi được mở phủ Tây Kỳ vương tại La kiều huyện Thạch thất (nay là Cầu liêu). Mộ chí cụ Nguyễn Kính táng tại dãy Câu Nậu Sơn (dãy núi Tây phương). Nay đã tìm ra khu mộ của cụ tại Thung Vầu, núi Miễu, dưới chân núi Kim Long, chùa Kim Long. Nhân dân xã Cần Kiệm huyện Thạch Thất cùng dòng họ đã tổ chức xây dựng tôn tạo và khánh thành lại khu mộ cụ Tây Kỳ vương Nguyễn Kính vào mùa xuân năm 2013. Tại thôn Phú đa, đình làng Phú đa, trên đỉnh núi Miễu cũng có đền thờ Cụ). Do có nhiều công lao với quê hương, đất nước, lại có tấm lòng thương yêu nhân dân đặc biệt là những vùng đất thuộc xứ Đoài quê hương của cụ. Cụ Nguyễn Kính đã được nhân dân các nơi như làng Phú Đa, làng Phú Lễ thuộc xã Cần kiệm huyện Thạch thất, thôn Cổ Liễn xã Cổ Đông thuộc thị xã Sơn Tây, làng La Gián xã Cổ Đông và rất nhiều nơi đã tôn thờ cụ làm thành hoàng của làng, nhiều nơi ngoài đình làng còn lập miếu thờ cụ quanh năm nhang khói không dứt, trong đó có ngôi miếu thờ bên bờ sông Tích ở một địa thế rất đẹp thuộc đất làng Phú Lễ (được khôi phục lại và khánh thành nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội -2010). Hàng năm đến ngày mồng 6 tháng 4 âm lịch đều tổ chức tế lễ trọng thể theo hình thức hội làng. Riêng hội làng Phú Đa, Phú Lễ tổ chức từ 11 đến 13 tháng giêng với rất nhiều hình thức phong phú như thi gói bánh chưng thờ, thi gà thờ, thi đấu vật, têm trầu cánh phượng… Món cúng thờ tại đình làng là bún với rau cần được đặt trang trọng trên các mâm lễ để dâng tế mẹ con cụ Nguyễn Kính tại đình làng vào dịp hội làng.

Kính thưa các quý vị khách quý và các quý vị đại biểu!
Cụ tổ Tây Kỳ vương Nguyễn Kính có hai con trai: Nguyễn Cung và Nguyễn Ngọc Liễn

Cụ NGUYỄN CUNG
Cụ Nguyễn Cung, tự là Thân đức, Thuỵ là Cẩn tiết, con trai cả của cụ Nguyễn Kính, sinh năm Đinh Hợi (1527)

Cụ làm quan với nhà Mạc. Năm Nhâm tý (1552), niên hiệu Cảnh lịch nhà Mạc giữ chức Thị vệ sự triều đình. Năm Tân Dậu (1561) niên hiệu Bảo quang thứ tám nhà Mạc, được phong Quận công giữ chức Dân binh đẳng sự, quản huyện An sơn (huyện Quốc oai – tỉnh Hà tây, nay là Hà Nội ). Năm Tân mùi (1571) giữ chức Tham đốc, năm Mậu dần (1578) cụ 50 tuổi giữ chức Bệ đề đốc. Cụ Nguyễn Cung đã làm quan và tước phong Quận công, giữ chức Bệ đề đốc đến khi chí sỹ về quê và đất phong ở huyện Quốc Oai đến năm 1586.
Đến ngày 20 tháng 8 (Bính tuất ) thì cụ mất, thọ 60 tuổi. Năm đó là năm Diên Thành thứ 9 nhà Lê và nhà Mạc là năm Diên Thành thứ chín, cũng là năm cải niên hiệu thành Đoan Thái thứ nhất (Bính Tuất- 1586). Triều Mạc đặc phong Tiến Khai phủ, phụ Quốc Tướng quân – Đề đốc thần vũ, Tứ vệ quân sự vụ – Gia quận công Mạc tướng quân. Tên tự là Thận Đức, tên thụy là Cẩn tiết phủ thần quân.
Cụ Nguyễn Cung có một con trai là Nguyễn Ngọc Hưng, sau đổi là Bùi Tất Tố là con trai trưởng của Gia Quận công Mạc Ngọc Cung.
Cụ Bùi Tất Tố làm quan triều Lê Trung hưng giữ chức Thái Y viện, Chưởng viện văn Thạc bá Mạc Ngọc Hưng là sau đổi sang họ Bùi theo cha nuôi họ Bùi ( gia thần và là người nuôi dưỡng). Tước “Bá”

Cụ NGUYỄN NGỌC LIỄN

Cụ Nguyễn Ngọc Liễn còn gọi là Ngọc Huy, hiệu là Đức quảng thường gọi là cụ Đà.

Cụ Liễn sinh năm Mậu tý (1528) con trai thứ hai của cụ Nguyễn Kính là phò mã và làm quan đại thần với nhà Mạc.

Khoảng hơn 20 tuổi cụ Liễn đã giữ chức Đô uý ngạn Quận công Chưởng phù tây vệ. Cụ lấy con gái trưởng của vua Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) là Thái trưởng công chúa Phúc thành Mạc Thị Ngọc Lâm nên gọi là phò mã Ngạn quận công. Được vua Mạc ban quốc tính nên gọi là Mạc Ngọc Liễn.

Là một danh tướng và lại là người thân thiết của nhà Mạc, cụ đã hết lòng phò tá cho nhà Mạc, được các triều Mạc rất quý trọng và tin cậy, đã từng được phong chức tước cao cả và gánh vác những trọng trách lớn nhất với các triều Mạc

Năm Giáp thân (1584) niên hiệu Diên thành thứ bảy nhà Mạc được phong tước Đà Quốc công. Năm Bính tuất (1586). Niên hiệu thứ nhất Đoan thái nhà Mạc, phong Cẩn lễ công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Trung quân đô đốc phủ, tả đô đốc , Chưởng phụ sự kiêm Tôn nhân phủ hữu tôn chính, phò mã đô uý Thái bảo Đà quốc công Thượng trụ quốc. Sau lại được phong Khai phủ phụ quốc công thần, tu nghị triều chính kiêm tôn nhân phủ, tôn nhân lệnh Thái phó Đà Quốc công.

Là người thân tín, có nhiều công lao đối với nhà Mạc. Năm (1592) khi nhà Mạc thất thế, cụ đã là tổng chỉ huy cuộc rút lui đưa tôn thất nhà Mạc về vùng đất Cao Bằng. Trong đó có những vùng như ở châu Vạn Yên (Lạng Sơn) và Châu Yên (Bắc Giang)… Năm Quý Tỵ (1593) cụ Liễn đã tìm con trai của Khiêm vương Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung lên làm vua, cụ Liễn làm phụ quốc chính, đặt niên hiệu Càn thống năm thứ nhất. Khi việc lập vua và ổn định được nhà Mạc ở Cao Bằng. Năm Giáp Ngọ (1594) cụ Liễn rời về châu Vạn Ninh (tỉnh Quảng Yên nay là tỉnh Quảng Ninh) để chỉ huy việc xây dựng thành, lũy và các căn cứ phòng thủ, huấn luyện quân sỹ. Khu vực quân sự và hệ thống bảo vệ dần dần đi vào ổn định. Do việc đi lại và chỉ huy cùng với biết bao nhiêu công việc quan trọng khác cho một vương triều mới được thành lập tại phía bắc của nhà Mạc. Thời tiết cũng rất khắc nghiệt đã làm cụ Liễn bị ốm nặng rồi tạ thế vào ngày 02 tháng 7 tại đây (năm Giáp ngọ ) thọ 67 tuổi.

Trước khi qua đời cụ Nguyễn Ngọc Liễn đã có thư để lại khuyên vua Mạc Kính Cung ”Khi số nhà Mạc đã hết, nhà Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta vô tội mà để cho mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Ta nên lánh mình ngoài cõi, dấu tiết đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, nếu hai hổ đánh nhau tất phải một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến ta nên tránh, chớ có đánh nhau, cốt phải giữ cẩn thận là hơn. Lại nên nhớ kỹ chớ có mời người Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, thì đó là một tội không gì nặng bằng”.

Bức thư này được ghi trong gia phả và các sử sách Việt nam qua các triều đại cho đến ngày nay (sách Đại Việt sử ký toàn thư trang 723 – tập II, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 2004). Những lời tâm huyết đó đã nói rõ sự hiểu biết về thời thế, lòng yêu nước thương dân, ý thức tự tôn dân tộc rất cao của cụ Liễn. Các nhà sử học đã nhận định “ Mạc Ngọc Liễn xứng đáng là con của danh tướng Nguyễn Kính. Hai đời cha con ông phò tá cả 5 đời vua Mạc, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một triều đại. Sau Mạc Kính Điển, có lẽ Mạc Ngọc Liễn là chỗ dựa lớn nhất của nhà Mạc. Mạc Ngọc Liễn một đời tận trung với nhà Mạc, dù vật đổi sao dời vẫn không thay đổi lòng trung. Các sử gia ngày nay vẫn đánh giá rất cao lời di chúc có một không hai trong lịch sử. Về mặt chiến thuật đó là phải tránh thế mạnh khi kẻ địch đang mạnh. Sự tài tình và am hiểu binh pháp của cụ lúc đó rất hợp lý đối với phe yếu như tương quan lực lượng giữa Lê và Mạc thời kỳ sau. Vua tôi nhà Mạc nhờ theo kế sách của cụ Liễn đã giữ được đất Cao bằng trong mấy đời với gần 100 năm nữa sau khi cụ mất. Nhìn lại quá trình lịch sử cho thấy hậu quả của sự đô hộ của nước ngoài thật vô cùng thảm khốc, cụ Liễn hơn ai hết rất thấm thía bài học và nỗi đau của dân tộc về chiến tranh. Trước đó dù chỉ 20 năm đô hộ của nhà Minh (1407-1427) đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề cho đất nước. Suốt gần 200 binh hỏa liên miên, các nhân vật cao cấp của các chính quyền cai trị chỉ say sưa với chiến trận và bảo vệ quyền lợi của riêng mình, nhưng trong đó đã lóe sáng lời dặn của Mạc Ngọc Liễn. Kể từ khi Nguyễn Trãi mất, trong một khoảng thời gian dài của lịch sử đến khi nhà Mạc mất mới lại có một vị quan đại thần biết lo đến nỗi thống khổ của nhân dân Đại Việt về nạn binh đao và họa ngoại xâm, biết đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích của mình. Nhà Mạc sau Thái Tổ và Thái Tông không có thêm vua giỏi, nhưng có bầy tôi như Mạc Kính Điển, Mạc Ngọc Liễn cứu vãn hình ảnh của nhà Mạc. Trong lịch sử rất nhiều vua và đại diện một số triều đại khi bị mất ngôi thì lại ra nước ngoài cầu cứu mượn viện binh về đánh người trong nước, gây nên bao cảnh huynh đệ tương tàn, đầu rơi, máu chảy. Riêng nhà Mạc khi bị mất ngôi, đã biết nghe theo lời dặn của cụ Liễn, biết cách rút lui khỏi chính trường và theo đó không để lại sự oán thoán, chê trách của hậu thế. Nhân đây tôi cũng muốn trích một đoạn trong bài viết của tác giả là Giáo sư Trần Gia Phụng trong bài “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có bình về lời chúc thư của cụ Liễn “Đây không phải là lời nói suông trong cảnh trà dư, tửu hậu, nhưng đây là lời tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những lời dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – Nhân bản, đầy tính tự tôn dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”. Sử sách của Ngô Sỹ Liên và Lê Quý Đôn mặc dù trong quan điểm nhìn nhận về nhà Mạc còn có nhiều điểm hạn chế do tư tưởng trung quân gò bó gọi nhà Mạc là ngụy triều hoặc cướp ngôi nhà Lê … nhưng đều phải ghi nhận và khen ngợi một lời di chúc vô cùng đôn hậu và chứa chan tình yêu nước thương dân của một đại thần nhà Mạc là Phò mã Đô uý Thái phó Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn.

Cụ Mạc Ngọc Liễn có 06 con trai và 04 con gái gồm có:
1- Mạc Lập tức Lập Quận công (Nguyễn Ngọc Lập)
2- Mạc Sơn Đông tức là phò mã Đô úy Sơn Đông hầu (Nguyễn Ngọc Tùng)
3- Phù Cao Hầu (không rõ tên)
4- Mạc Ngọc Tòng tức Triều đông vệ, thị vệ sự (Nguyễn Ngọc Tòng)
5- Mạc Ngọc Cẩn tức Thành Tây vệ, Đô chỉ huy xứ, Phù cao hầu (Nguyễn Ngọc Cẩn)
6- Mạc Ngọc Hổ là phò mã Đô úy Cao Sơn hầu (còn gọi là Nguyễn Ngọc Phách)
Bốn con gái là:
1- Quế dương Quận chúa Mạc Thị Ngọc Mai
2- Nghi xuân Quận chúa Mạc Thị Ngọc Lương
3- Phù thượng Quận chúa Mạc Thị Ngọc Đĩnh
4- Hiền thượng Quận chúa Mạc Thị Ngọc Thích.

Kính thưa các quý vị!

Nói về CÔNG ĐỨC CỦA CÁC CỤ TỔ!

Tuy làm quan đại thần, dưới một người, trên muôn vạn người, ngày đêm lo việc nước, việc quân và biết bao nhiêu nỗi lo khác cho quê hương, đất nước. Cha con cụ Kính đã hết lòng quan tâm xây dựng và để lại cho hậu thế nhiều công trình, đặc biệt trong vai trò trọng thần số 1 của triều Mạc, cụ Liễn đã để lại những công trình tiêu biểu như:

1- Chùa Bảo Quang tự – xã Dị Nậu, huyện Thạch Thất quê hương của cụ với số tiền, vàng, ruộng còn ghi rõ tại văn bia nhà chùa bao gồm: 3 thửa đất các xứ An Trạch, Đồng Mai, Đồng Hòa, 01 thửa ao ở An Trạch xứ. Vàng, bạc là 10 cân để làm nơi thờ tự, cúng tế của dân làng. Bia công đức lập năm 1637.
2- Năm 1544 – Giáp Thìn cụ Liễn đã cùng vợ là Phúc thành công chúa Thái trưởng Mạc thị Ngọc Lâm đã đại tu và xây dựng lại chùa Linh tiên quán ( làng Cao Thượng, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức) ngoài số của cải để xây dựng còn có 10 mẫu ruộng cúng làm vật tam bảo quán Linh Tiên để lo đèn nhang lưu truyền mãi mãi. Đây là một di tích gắn liền với tể tướng Lữ Gia nhà Triệu nước Nam Việt, trước đó Linh tiên Quán đã nhiều lần được tu sửa nhưng tới lần vợ chồng cụ tu sửa mới để lại cho hậu thế một công trình văn hóa với quy mô bề thế bằng gỗ như ngày nay. Vợ chồng cụ Liễn còn có một tác phẩm nghệ thuật vô giá là đôi chân đèn men ngọc lam dòng gốm Chu Đậu thế kỷ XVI có ghi rõ tên, chức sắc của các cụ cúng tiến vào Chùa Linh tiên. Hiện nay còn một chiếc đang lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam tại Hà Nội.
3- Gia đình cụ Liễn còn tu bổ đền Lũng Dâu ( huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) thờ Sỹ Nhiếp là ông tổ Hán học ở Việt Nam. Đền Lũng được xây dựng với quy mô to lớn từ khi cụ Liễn thực hiện, với 5 tòa nhà liền nhau, hai bên tả hữu có lầu, phía trước là hồ có cầu đá bắc qua, bên ngoài dựng môn lâu, ngoài nữa sát sông là Dâu là Vọng Giang Lâu.
4- Những năm cuối khi nhà Mạc chuẩn bị rời Thăng Long, cụ Liễn cùng vợ là Vương phi Thái trưởng công chúa Phúc Thành Mạc Thị Ngọc Lâm đã về ở tại chùa Phổ Minh (thành phố Nam Định) hai cụ đã cúng tiến rất nhiều của cải để xây dựng lại ngôi chùa. Trong đó sử sách còn ghi rõ là 36 cây gỗ tứ thiết (gỗ lim) toàn bộ số xà gồ trên mái vẫn ghi rõ tên tuổi của các cụ. Hiện nay các dòng chữ Hán khắc chìm vẫn còn đọc được.

Ngoài các điểm di tích chính đã nêu trên, các cụ còn có rất nhiều công lao xây dựng tôn tạo các công trình thờ tự như: Am Động Tiên ở Sài Sơn, Chùa Hưng Khánh ở Tây Tựu -Từ Liêm. Chùa Thiên Niên Cổ tự ở Trích Sài, phường Bưởi, quận Tây Hồ (nay ở trung tâm của phố Lạc Long quân), đình Trích Sài thuộc phường Bưởi, quận Ba Đình, quán Hội Tiên ở Phượng Trì… và còn rất nhiều điểm di tích còn lại mà chúng tôi chưa thể thống kê hết được. Bên cạnh việc xây dựng, tu bổ các Đình, chùa, quán… các cụ còn đầu tư nhiều tiền của xây dựng cầu, cống, đường, xá đi lại cho dân. Trong các cầu lớn còn lại mà nhân dân vẫn gọi là cầu Cự Thạch ở huyện Thạch Thất. Hiện nay tại các xã Chàng Sơn, Thạch xá, Dị nậu … nhân dân vẫn thường thấy các tấm đá xanh rất lớn dùng đề làm cầu đi lại, nhân dân vẫn tôn kính gọi là đá Cụ Đà. Ngoài ra phải kể đến khi cụ Liễn đưa Nhà Mạc về Cao Bằng, cụ đã hết lòng quan tâm giúp dân chăm lo xây dựng cuộc sống. Nhớ ơn cụ một làng ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã mang tên Đà Quận, tức là đặt theo chức Đà Quận công. Dân làng đã lập một ngôi chùa để tưởng nhớ cụ. Hội chùa diễn ra vào ngày 9 tháng giêng hàng năm.

Kính thưa các quý vị!

Lịch sử kể từ khi cha con cụ khởi tổ Tây Kỳ Vương Nguyễn Kính xuất thân từ ngôi làng Cổ Nậu đến nay đã đi qua hơn 5 thế kỷ, biết bao thăng trầm mà dân tộc và các thế hệ đã đi qua được chứng kiến. Chúng ta những thế hệ con, cháu được thừa hưởng những công lao và thành quả của các cụ để lại và cả những lời căn dặn của cụ Liễn khi qua đời làm bài học về tính nhân văn cao cả để càng thêm tự hào về người con của quê hương, xây dựng mối đoàn kết, tình thân ái, cố gắng làm được nhiều điều tốt, xây dựng quê hương ngày càng giầu đẹp để mãi mãi xứng đáng với quê hương xứ Đoài nổi tiếng địa linh, nhân kiệt. Chúng tôi cũng thiết tha mong muốn, trải qua thời gian lịch sử sẽ phải được xem xét một cách nghiêm túc, định rõ công lao to lớn của các cụ đã để lại cho quê hương và hậu thế, để khỏi buồn lòng các thế hệ cháu, con và quê hương qua hơn 500 năm vẫn chưa làm được cái việc “Danh phải chính, ngôn phải thuận” để góp một phần làm đẹp lòng người xưa đã cả đời hy sinh vì dân vì nước như cha, con cụ Tây Kỳ Vương Nguyễn Kính. Cuộc đời và sự nghiệp của cha con cụ còn sống mãi với lịch sử và thời gian.

Xin chân thành cảm ơn các quý vị khách quý, các vị đại biểu đã chú ý lắng nghe! Kính Thỉnh cầu mong cụ tổ Tây Kỳ vương Nguyễn Kính linh thiêng, phù hộ cho mọi người luôn mạnh khỏe, gia đình hạnh phúc và gặp nhiều may mắn…

Xin trân trọng cảm ơn…